Câu hỏi 91: Can thiệp động mạch vành là gì? Nong động mạch vành là gì? Đặt stent động mạch vành là gì? Khi nào cần làm? Làm như thế nào? Chuẩn bị ra sao?

Câu hỏi 91 : Can thiệp động mạch vành là gì? Nong động mạch vành là gì? Đặt stent động mạch vành là gì? Khi nào cần làm? Làm như thế nào? Chuẩn bị ra sao?
Can thiệp mạch vành qua da là một kỹ thuật dùng một loại ống thông nhỏ (catheter) để đưa một bóng nhỏ vào lòng động mạch vành bị tắc rồi nong và đặt Stent (giá đỡ) để làm tái thông dòng máu . Trái với phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành cần mở lồng ngực , can thiệp động mạch vành có thể thực hiện chỉ bằng cách mở một lỗ nhỏ trên da để đưa catheter vào động mạch ở đùi hay cổ tay . Người bệnh sẽ được gây tê tại vùng chọc nên nhìn chung , thủ thuật này không gây đau hơn một lần lấy máu làm xét nghiệm . Bệnh nhân vẫn luôn tỉnh táo trong suốt quá trình thực hiện thủ thuật . Khi chụp mạch vành , bác sĩ của bạn sẽ chỉ cho bạn động mạch vành bị hẹp/tắc , vị trí tắc nghẽn và mức độ tổn thương có cần được can thiệp nong và đặt stent


hay không . Quá trình thực hiện thủ thuật thường được tiến hành trong vòng 1 giờ và phần lớn bệnh nhân có thể về nhà sau 1 – 2 ngày tính từ khi kết thúc thủ thuật .
Chụp và can thiệp nong , đặt stent động mạch vành qua da giải quyết tình trạng hẹp tắc trong động mạch vành , giúp tưới máu cho cơ tim tốt hơn trong mọi điều kiện hoạt động gắng sức của bệnh nhân và do đó , cho phép bệnh nhân có thể hoạt động trở lại mà không xuất hiện cơn đau thắt ngực . Trong trường hợp nhồi máu cơ tim , cùng với việc điều trị bằng thuốc tối ưu , thủ thuật này là một biện pháp giúp tái tưới máu động mạch vành để hạn chế bớt vùng cơ tim tổn thương do thiếu máu , đồng thời cũng giúp phòng tắc hẹp tái phát , hạn chế cơn đau thắt ngực trở lại .
Trước khi chụp hay đặt stent động mạch vành , bác sĩ sẽ giải thích cho bạn hoặc thân nhân của bạn tại sao cần thực hiện kỹ thuật này , dự kiến phương pháp tiến hành ra sao và những nguy cơ biến chứng có thể xảy ra trong quá trình thực hiện . Ngày nay , với những tiến bộ trong trang thiết bị , phương tiện hồi sức và thuốc hỗ trợ , chụp và can thiệp động mạch vành qua da đã an toàn hơn và nguy cơ của nó đã giảm đi rất nhiều . Tuy nhiên nó vẫn là một thủ thuật xâm nhập gây chảy máu và có thể xảy ra những nguy cơ nhất định .
Những nguy cơ của thủ thuật này bao gồm chảy máu , nhiễm trùng , phản ứng dị ứng với thuốc cản quang sử dụng trong khi chụp , nguy cơ tổn thương mạch máu , đột quỵ và suy thận . Ngoài ra , cũng có một tỷ lệ nhất định các stent đã đặt có thể đột ngột bị tắc lại gây ra nhồi máu cơ tim cần phải can thiệp lại hoặc làm cầu nối cấp cứu , thậm chí cả tử vong . Khả năng xảy ra tai biến hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố . Theo thống kê của các nghiên cứu lớn trên thế giới , nguy cơ tai biến cần can thiệp cấp cứu hay tử vong liên quan đến kỹ thuật chụp động mạch vành là khá thấp (chỉ 1 đến 2%) .
Trước khi thực hiện chụp động mạch vành , bạn cần được dùng đầy đủ một số thuốc như aspirin , clopidogrel ,… cũng như cần dừng một số loại thuốc khác bạn đang dùng như thuốc đái tháo đường nhóm metformin hay coumadin . Bệnh nhân có tiền sử dị ứng với thuốc cản quang có thể phải dùng một số thuốc chống dị ứng trước thủ thuật ít nhất 1 ngày để giảm nguy cơ xảy ra phản ứng dị ứng nặng nề . Tốt nhất hãy nói cho bác sĩ của bạn biết nếu như bạn bị dị ứng với thuốc nhuộm hay tôm cua .
Bạn cũng sẽ được dùng một loại thuốc an thần nhẹ trước khi tiến hành thủ thuật để giúp thư giãn , tránh cảm giác căng thẳng .
Khi ở trong phòng can thiệp , bạn sẽ được chuyển lên bàn can thiệp . Chụp và can thiệp động mạch vành có thể được tiến hành qua động mạch vùng bẹn , khuỷu hay cổ tay . Vùng làm thủ thuật sẽ được làm sạch và cạo lông , sát khuẩn sạch và phủ vải vô khuẩn xung quanh . Bác


sĩ làm thủ thuật sẽ gây tê vùng đó bằng thuốc tê trước khi mở một lỗ nhỏ vào lòng động mạch tại vùng đó . Tiếp theo , một ống nhỏ (được gọi là sheath) sẽ được đưa vào động mạch . Qua ống này , một catheter dẫn đường đặc biệt sẽ được đưa vào để lái theo động mạch đến động mạch vành . Sau đó , một dây dẫn rất nhỏ và mỏng được luồn qua ống thông trên để đưa đến vị trí tổn thương rồi xuyên qua chỗ tắc trong lòng động mạch vành . Tuỳ thuộc vào tổn thương của động mạch vành , bác sỹ có thể dùng một bóng nhỏ đặc biệt đưa vào nong chỗ hẹp tắc trong động mạch vành hay không . Quả bóng này giúp mở chỗ tắc bằng cách ép mạnh mảng xơ vữa vào thành mạch làm mở thông động mạch . Có thể cần nong một vài lần tiếp theo với những cỡ bóng to hơn hay với áp lực cao hơn để giảm mức độ tắc nghẽn . Thông thường , nong động mạch vành bằng bóng có thể làm mức độ hẹp giảm đi từ 20 – 30% . Cuối cùng , một hoặc một vài stent sẽ được đặt vào vị trí tổn thương để giảm tỷ lệ tái hẹp sau can thiệp .
Trong kỹ thuật đặt stent , một stent được đặt bên ngoài quả bóng nong gắn trên đầu một dây dẫn đặc biệt . Khi quả bóng nong được bơm căng sẽ làm mở stent và ép vào thành động mạch vành . Khi dây dẫn mang quả bóng được rút ra , stent sẽ nằm lại trong lòng mạch , có tác dụng như một giá đỡ làm cho lòng mạch không co hẹp lại .
Một tiến bộ gần đây là sự phát triển của loại stent phủ thuốc có tác dụng làm giảm nguy cơ mảng xơ vữa phát triển trở lại sau một thời gian . Thuốc được phủ lên các mắt lưới trên stent . Sau khi stent được đưa vào trong động mạch vành , thuốc dần dần được phóng thích vào thành mạch trong vài tuần hoặc vài tháng .
Khi động mạch vành bị tắc chỉ được điều trị với nong bằng bóng đơn thuần , nguy cơ của hẹp tái phát gây triệu chứng (đau ngực tái phát) là khoảng 30% . Nếu đặt stent , nguy cơ này giảm xuống khoảng 20% còn nếu đặt stent phủ thuốc thì nguy cơ tái hẹp chỉ còn 5 – 10% . Bác sỹ làm thủ thuật sẽ giải thích cho thân nhân của người bệnh nên đặt stent thường (không phủ thuốc) hay stent phủ thuốc tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể .
Bệnh nhân thường được bắt đầu điều trị trước can thiệp bằng clopidogrel một vài ngày trước khi chụp và đặt stent động mạch vành . Clopidogrel là một thuốc có tác dụng làm giảm kết dính tiểu cầu giống như aspirin . Clopidogrel và những thuốc tương tự cần được dùng ít nhất trong 4 tuần sau đặt stent không bọc thuốc hay 6 đến 12 tháng sau khi đượcđặt stent phủ thuốc để dự phòng hình thành huyết khối gây tắc stent .

Có thể bạn quan tâm