Tin tức

Ảnh hưởng của giãn tĩnh mạch vùng chậu

Hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu (xung huyết vùng chậu) là bệnh lý thường gặp ở nữ giới, gây đau vùng chậu mãn tính, đau khi quan hệ, và các triệu chứng khó chịu khác. Nguyên nhân do giãn tĩnh mạch vì mang thai hoặc tắc nghẽn. Chẩn đoán bằng siêu âm, chụp tĩnh mạch. Điều trị bằng thuốc, thuyên tắc mạch hoặc đặt stent. Nên đi khám nếu có triệu chứng nghi ngờ.

Hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu: Nhận biết và điều trị

Hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu là một bệnh lý thường gặp ở nữ giới. Do khó chẩn đoán nên bệnh dễ bị bỏ sót, dễ gây ra nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

1. Giãn tĩnh mạch vùng chậu là gì?

  • Hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu, còn được gọi là hội chứng xung huyết vùng chậu, là một bệnh lý thường gặp ở phụ nữ. Bệnh này dễ bị bỏ sót một phần do tâm lý e ngại của bệnh nhân khi chia sẻ về những cơn đau ở vùng kín. Ngoài ra, đây là một bệnh thuộc chuyên khoa phẫu thuật mạch máu, một lĩnh vực chưa phát triển đồng đều ở Việt Nam.

  • Nghiên cứu cho thấy khoảng 15% phụ nữ trong độ tuổi từ 18 đến 50 có biểu hiện đau vùng chậu. Tình trạng này thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Trong số này, khoảng 30% trường hợp bị đau vùng chậu mãn tính là do giãn tĩnh mạch vùng chậu. (Nguồn: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6442688/)

2. Nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch vùng chậu

  • Vùng chậu là phần thấp nhất của ổ bụng, được bao quanh bởi các cơ xương. Bên trong khoang vùng chậu chứa bàng quang, buồng trứng, tử cung, phần cuối ruột già và nhiều nhánh tĩnh mạch nối thông với nhau. Máu từ động mạch đến nuôi vùng chậu, sau đó được chuyển về tim qua các tĩnh mạch.

  • Nếu hệ tĩnh mạch gặp vấn đề về lưu thông máu, máu sẽ bị ứ lại, khiến các tĩnh mạch bị giãn ra, làm tăng áp lực trong tĩnh mạch và gây ra các triệu chứng của hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu.

  • Những nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch vùng chậu:

    • Mang thai nhiều lần hoặc sinh nhiều con: Sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể người mẹ khi mang thai sẽ khiến các tĩnh mạch giãn to ra để đáp ứng nhu cầu chuyển máu tới bào thai. Bên cạnh đó, thai nhi lớn lên vào những tháng cuối thai kỳ cũng có thể chèn ép vào các tĩnh mạch vùng chậu, gây cản trở máu về tim và làm giãn các tĩnh mạch ở đây. Hầu hết các tĩnh mạch sẽ thu nhỏ lại và trở về kích thước bình thường sau khi sinh con. Tuy nhiên, nếu kích thước tĩnh mạch không phục hồi lại được do bị hỏng các van trong quá trình mang thai, người mẹ có thể có triệu chứng của hội chứng xung huyết vùng chậu.
    • Tắc hoặc hẹp các tĩnh mạch: Các tĩnh mạch lớn ở vùng bụng dưới có thể bị tắc hoặc hẹp do huyết khối, chèn ép tĩnh mạch chậu. Khi đó, máu sẽ phải đi theo các nhánh tĩnh mạch phụ về tim. Lâu ngày, các nhánh tĩnh mạch này giãn to, ứ huyết, gây hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu.

3. Triệu chứng của bệnh giãn tĩnh mạch vùng chậu

  • Các biểu hiện cụ thể của hội chứng:

    • Đau vùng bụng dưới mãn tính: Kéo dài trên 6 tháng, cảm giác tức nặng bụng dưới tăng dần trong ngày, đau nhất vào cuối ngày. Tình trạng đau vùng chậu thường xuất hiện sau khi mang thai và có xu hướng đau nặng hơn sau mỗi lần mang thai.
    • Đau khi giao hợp và sau khi giao hợp: Kèm theo cảm giác nặng và mỏi chân sau khi quan hệ tình dục.
    • Triệu chứng liên quan đến kích thích các cơ quan khác: Đau trong kỳ kinh nguyệt; kích thích đường tiểu gây tiểu khó, tiểu gấp, tiểu nhiều lần; kích thích đại tràng gây táo bón; đau nhức ở chân, thắt lưng. Các triệu chứng này tăng lên khi đứng hoặc ngồi lâu, giảm khi bệnh nhân nằm nghỉ.
    • Giãn tĩnh mạch vùng tầng sinh môn: Chủ yếu ở âm hộ; giãn tĩnh mạch ở những vị trí không điển hình như mông, mặt sau và mặt bên của đùi hoặc bị suy giãn tĩnh mạch tái phát sớm sau phẫu thuật.
    • Dịch tiết âm đạo: Một số phụ nữ đôi khi có dịch tiết âm đạo trong hoặc nước.
    • Triệu chứng khác: Mệt mỏi, nhức đầu, chướng bụng, thay đổi tâm trạng.
  • Tình trạng đau vùng chậu mãn tính cũng có thể là dấu hiệu của một số bệnh lý phụ khoa khác như u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung, ung thư vùng chậu, hội chứng chèn ép dây thần kinh thẹn. Do vậy, bệnh nhân bị đau vùng chậu nên đi khám để loại trừ các bệnh này trước khi nghĩ tới hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu.

4. Chẩn đoán giãn tĩnh mạch vùng chậu

  • Dựa vào các triệu chứng lâm sàng, bác sĩ sẽ có chẩn đoán sơ bộ về tình trạng của bệnh nhân. Để khẳng định chẩn đoán giãn tĩnh mạch vùng chậu, bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh thực hiện thêm các kỹ thuật sau:
    • Siêu âm bụng chậu hoặc siêu âm với đầu dò âm đạo: Để phát hiện tình trạng các tĩnh mạch bị giãn to và tình trạng rối loạn huyết động học của dòng máu lưu chuyển trong các tĩnh mạch này. Để siêu âm cho kết quả chính xác nhất, bệnh nhân nên tuân thủ chế độ ăn ít chất xơ trước đó 3 ngày và nên siêu âm lúc đói.
    • Chụp tĩnh mạch số hóa xóa nền: Sau khi gây tê tại chỗ, bác sĩ đưa một ống thông nhỏ vào lòng tĩnh mạch đùi của bệnh nhân rồi luồn tới tĩnh mạch vùng chậu để chụp. Hình chụp cho phép bác sĩ chẩn đoán mức độ bệnh, nguyên nhân gây bệnh và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.
    • Nội soi ổ bụng: Được chỉ định thực hiện nếu bệnh nhân đau vùng chậu gây khó chịu và chưa xác định được nguyên nhân.
    • Các xét nghiệm bổ sung: Chụp CT, MRI, cộng hưởng từ hệ tĩnh mạch.

5. Điều trị hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu

  • Khi mắc hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu, chị em phụ nữ thường bị đau, khó chịu nên trốn tránh việc gần gũi với chồng. Hạnh phúc gia đình khó gìn giữ cùng áp lực của cuộc sống và tình trạng bị những cơn đau hành hạ sẽ khiến chị em suy sụp. Vậy có cách nào điều trị hội chứng này?

  • Các bác sĩ thường đề nghị điều trị bệnh như sau:

    • Sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Có thể được chỉ định cho bệnh nhân để giảm đau. Tuy nhiên, nếu chúng không có hiệu quả hoặc cơn đau của bệnh nhân vẫn rất nghiêm trọng thì bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị khác.
    • Sử dụng thuốc nội tiết tố nữ hoặc thuốc trợ tĩnh mạch: Để điều trị hội chứng xung huyết vùng chậu. Tuy nhiên, kết quả không quá cao và việc điều trị không thực sự triệt để. Thường thì các biểu hiện của hội chứng này sẽ tiếp tục xuất hiện sau khi người bệnh ngưng thuốc.
    • Thuyên tắc tĩnh mạch buồng trứng qua can thiệp nội mạch: (Thực hiện dưới gây tê tại chỗ). Sau khi chụp xác định chẩn đoán, các tĩnh mạch bị chảy ngược sẽ được thuyên tắc bằng một số biện pháp khác nhau. Mục đích của việc này là triệt tiêu dòng máu chảy ngược trong các tĩnh mạch bị giãn - nguyên nhân gây đau vùng chậu.
    • Đặt stent tái thông tĩnh mạch: Nếu hội chứng xung huyết vùng chậu có liên quan với bệnh lý tắc nghẽn các tĩnh mạch lớn, cần điều trị bằng phương pháp đặt stent tái thông tĩnh mạch. Khi đó, máu sẽ lưu chuyển qua các tĩnh mạch chính vừa được tái thông để đổ về tim, đồng thời làm giảm lưu lượng máu ở các tĩnh mạch nhánh, giảm tình trạng ứ đọng máu trong các tĩnh mạch vùng chậu, từ đó cải thiện triệu chứng của bệnh.
  • Theo nhiều nghiên cứu, phương pháp thuyên tắc mạch qua can thiệp nội mạch có thể cải thiện tới 80-100% triệu chứng của hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu. (Nguồn: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6390278/)

  • Theo khuyến cáo của các bác sĩ, nếu bị đau vùng bụng dưới trên 6 tháng, đau sau khi quan hệ tình dục, mỏi chân sau khi sinh hoạt vợ chồng kèm giãn tĩnh mạch ở các vùng quanh mông, bộ phận sinh dục, thì có khả năng cao chị em đã mắc hội chứng giãn tĩnh mạch vùng chậu. Lúc này, những người có dấu hiệu trên nên ngay lập tức đi khám để được khẳng định chẩn đoán và có hướng điều trị thích hợp.

Thông tin liên hệ

Hotline - 0938 237 460
336A Phan Văn Trị, Phường 11
Bình Thạnh, TPHCM

Giờ làm việc

Thứ 2 - 7:
Chiều: 16:30 - 19:30
Chủ nhật, Ngày lễ nghỉ

Phụ trách phòng khám: BSCK2 Phạm Xuân Hậu. GPHĐ: 06075/HCM-GPHĐ ngày 07/9/2018 do Sở y tế TP HCM cấp

© 2025 Phòng khám Tim mạch OCA. Designed By Medcomis & JoomShaper