Sốt Thấp Khớp: Tổng Quan, Chẩn Đoán và Điều Trị
Sốt thấp khớp là một biến chứng liên quan đến viêm họng do liên cầu khuẩn. Bệnh gây ra những tổn thương nghiêm trọng trong tim cũng như các tạng khác và thường xuất hiện ở trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến 15. Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sốt thấp khớp vẫn là một vấn đề sức khỏe đáng kể ở các nước đang phát triển.
1. Bệnh Sốt Thấp Khớp Là Gì?
- Định nghĩa: Bệnh sốt thấp khớp, hay còn gọi là thấp tim, là bệnh gây ra bởi phản ứng miễn dịch của cơ thể sau 2-4 tuần bị viêm họng do liên cầu khuẩn tiêu huyết β nhóm A. Bệnh gây đáp ứng viêm toàn thân ảnh hưởng đến các cơ quan như tim, khớp, não, da. Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), sốt thấp khớp là một bệnh lý tự miễn dịch.
- Tổn thương tim: Bệnh đặc biệt gây tổn thương lâu dài ở tim, nhất là các van tim với tổn thương van hai lá thường gặp nhất. Tổn thương van tim có thể dẫn đến hẹp van hoặc hở van, ảnh hưởng đến chức năng bơm máu của tim.
- Tần suất: Nhìn chung, bệnh sốt thấp khớp vẫn còn khá thường gặp ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bệnh xảy ra ở lứa tuổi từ 5 đến 15 tuổi và là nguyên nhân hàng đầu của bệnh van tim ở người trẻ tuổi. Theo một nghiên cứu tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh sốt thấp khớp ở trẻ em là khoảng 2-4 ca trên 1000 trẻ.
2. Tiêu Chuẩn Chẩn Đoán Bệnh Sốt Thấp Khớp
Việc chẩn đoán bệnh sốt thấp khớp dựa vào tiêu chuẩn Jones, tức chẩn đoán xác định thấp tim khi có bằng chứng của nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A đường hô hấp với biểu hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp trên và/hoặc làm phản ứng ASO dương tính và/hoặc cấy dịch họng tìm thấy liên cầu, kèm theo có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc có 1 tiêu chuẩn chính kèm 2 tiêu chuẩn phụ trên từng đặc điểm dân số riêng biệt.
2.1. Tiêu Chuẩn Chính
Trên dân số nguy cơ thấp:
- Viêm tim (lâm sàng hoặc dưới mức lâm sàng): Viêm tim có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, từ viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim đến viêm nội tâm mạc. Viêm tim dưới lâm sàng chỉ có thể phát hiện qua siêu âm tim.
- Viêm khớp – viêm đa khớp: Viêm khớp thường ảnh hưởng đến các khớp lớn như khớp gối, khớp khuỷu tay, khớp cổ chân. Viêm thường di chuyển từ khớp này sang khớp khác.
- Múa vờn Sydenham: Là một rối loạn thần kinh đặc trưng bởi các cử động không tự chủ, không mục đích, thường ảnh hưởng đến mặt, lưỡi và các chi.
- Nốt dưới da: Là các nốt nhỏ, cứng, không đau, nằm dưới da, thường ở gần các khớp.
- Hồng ban vòng: Là các ban đỏ hình vòng, không ngứa, thường xuất hiện trên thân mình hoặc các chi.
Trên dân số nguy cơ trung bình và cao:
- Viêm tim (lâm sàng hoặc dưới mức lâm sàng): Tương tự như trên dân số nguy cơ thấp.
- Viêm khớp – viêm một khớp hoặc đa khớp: Tương tự như trên dân số nguy cơ thấp.
- Đau nhiều khớp: Đau khớp mà không có dấu hiệu viêm rõ ràng.
- Múa vờn Sydenham: Tương tự như trên dân số nguy cơ thấp.
- Nốt dưới da: Tương tự như trên dân số nguy cơ thấp.
- Hồng ban vòng: Tương tự như trên dân số nguy cơ thấp.
2.2. Tiêu Chuẩn Phụ
Trên dân số nguy cơ thấp:
- Đau nhiều khớp: Tương tự như trên.
- Sốt từ trên 38.5°C: Sốt là một phản ứng viêm của cơ thể.
- Xét nghiệm VS tăng trên 60 mm/giờ và/hoặc CRP trên 3.0 mg/dl: VS (tốc độ máu lắng) và CRP (protein phản ứng C) là các chỉ số viêm.
- Đoạn PQ kéo dài trên điện tâm đồ: Đoạn PQ kéo dài có thể là dấu hiệu của viêm tim.
Trên dân số nguy cơ trung bình và cao:
- Đau một khớp: Đau một khớp mà không có dấu hiệu viêm rõ ràng.
- Sốt từ trên 38.0°C: Sốt là một phản ứng viêm của cơ thể.
- Xét nghiệm VS tăng trên 30 mm/giờ và/hoặc CRP trên 3.0 mg/dl: VS (tốc độ máu lắng) và CRP (protein phản ứng C) là các chỉ số viêm.
- Đoạn PQ kéo dài trên điện tâm đồ: Đoạn PQ kéo dài có thể là dấu hiệu của viêm tim.
Theo khuyến cáo của AHA, dân số nguy cơ trung bình và cao là khi có số bệnh nhân bị thấp tim cấp xảy ra từ trên 2 trẻ trên 100.000 trẻ em trong độ tuổi đi học (5-15 tuổi) hoặc số bệnh nhân được chẩn đoán bệnh tim hậu thấp ở mọi lứa tuổi từ trên 1/1000 dân số trong một năm. Ngược lại là dân số nguy cơ thấp.
3. Các Xét Nghiệm Chẩn Đoán Bệnh Sốt Thấp Khớp
Trước một bệnh nhi nghi ngờ chẩn đoán bệnh sốt thấp khớp, cần thực hiện các xét nghiệm xác chẩn như sau:
3.1. Các Dấu Hiệu Là Bằng Chứng Của Nhiễm Liên Cầu Nhóm A
- Cấy họng tìm liên cầu: Bằng cách nuôi cấy hoặc xét nghiệm kháng nguyên nhanh. Xét nghiệm kháng nguyên cho kết quả nhanh và có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy thấp.
- Phản ứng huyết thanh (ASO): Xét nghiệm ASO có thể thay thế cho cấy họng nên khá thông dụng hiện nay. Sự tăng nồng độ ASO trên 220 đơn vị Todd có giá trị xác định dấu hiệu nhiễm liên cầu nhóm A. Tuy nhiên, ASO còn có thể tăng trong một số bệnh lý khác như viêm đa khớp, bệnh Takayasu, Schoenlein-Henoch hoặc thậm chí ở một số trẻ bình thường.
3.2. Xét Nghiệm Máu Khác
- Tăng bạch cầu, thiếu máu nhược sắc hay bình sắc.
- VS tăng, CRP tăng.
3.3. Điện Tâm Đồ
- Thường hay thấy hình ảnh nhịp nhanh xoang, có khi PR kéo dài trong bloc nhĩ thất cấp I.
- Khi bị viêm màng ngoài tim có thể thấy hình ảnh điện thế ngoại vi thấp.
3.4. Siêu Âm Doppler Tim
Siêu âm tim rất quan trọng trong bệnh thấp tim. Vì vậy, tất cả bệnh nhân nghi bị thấp tim đều phải siêu âm tim khảo sát. Đây là phương tiện chính để chẩn đoán, theo dõi và đánh giá điều trị, đặc biệt là viêm tim dưới mức lâm sàng khi không có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng mà chỉ có siêu âm tim thấy rõ sang thương trong tim. Theo khuyến cáo của ACC/AHA, siêu âm tim nên được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm.
Theo đó, các tiêu chuẩn siêu âm tim doppler trong thấp tim sẽ dựa vào đặc điểm của hở van hai lá, hở van động mạch chủ hay những tổn thương bộ máy van tại hai van tim này.
4. Điều Trị Bệnh Sốt Thấp Khớp
Trong đợt cấp tính, một khi đã có chẩn đoán xác định thấp tim thì cần thực hiện các biện pháp sau:
- Kháng sinh: Penicillin vẫn là thuốc lựa chọn đầu tiên để phòng thấp nguyên phát. Đối với bệnh nhân dị ứng penicillin, thuốc thay thế là cephalosporin phổ hẹp, azithromycin, clarithromycin. Theo hướng dẫn của WHO, phác đồ penicillin thường kéo dài 10 ngày.
- Kháng viêm: Aspirin hoặc corticoid. Thời gian điều trị sẽ tùy thuộc vào độ nặng của bệnh, tình trạng viêm tim và mức độ đáp ứng điều trị ban đầu. Nếu bệnh nhẹ, không có hoặc có viêm tim nhẹ thì có thể điều trị aspirin trong một tháng hoặc hết tình trạng viêm. Trường hợp nặng có thể dùng corticoid kéo dài 2-3 tháng và đánh giá điều trị dựa vào lâm sàng, cận lâm sàng. Tuy nhiên, nếu chọn corticoid thì có thể làm giảm tình trạng viêm cấp tính hiệu quả hơn nhưng ngược lại cũng có thể gây giữ nước làm tình trạng suy tim nặng hơn và cũng có thể bị tác dụng phụ nặng nề như xuất huyết tiêu hóa.
- Điều trị suy tim: Nếu xảy ra biến chứng này, sử dụng các thuốc đã được chứng minh là có lợi cho tim, cụ thể là ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin II (nếu không dung nạp được thuốc ức chế men chuyển) với liều thấp tăng dần đạt liều điều trị suy tim. Có thể kết hợp thêm lợi tiểu khi có quá tải dịch. Đồng thời, digoxin sẽ có chỉ định để điều trị triệu chứng nếu các biện pháp điều trị trên chưa hiệu quả hoặc kiểm soát đáp ứng thất nếu có rung nhĩ xuất hiện. Mặc dù vậy, việc dùng digoxin cần phải thận trọng vì tim của bệnh nhân thấp tim rất nhạy cảm nên dùng liều ban đầu chỉ nên bằng nửa liều thông thường.
- Ngoài ra, bệnh nhân cũng cần nghỉ tại giường, nằm đầu cao, hạn chế ăn mặn và thở oxy nếu lượng oxy trong máu thấp.
5. Phòng Ngừa Bệnh Sốt Thấp Khớp
Vấn đề cực kỳ quan trọng là nhắc nhở bệnh nhân và gia đình sự cần thiết và tôn trọng chế độ phòng thấp tim thứ phát khi bệnh nhân ra viện. Do một khi bệnh sốt thấp khớp tái phát trong tương lai, tổn thương tim sẽ trở nên nặng nề hơn, chức năng của tim không còn được đảm bảo và nguy cơ cao ảnh hưởng đến tính mạng.
Trong đó, kháng sinh điều trị với penicillin vẫn là phác đồ hiệu quả nhất cho phòng thấp tái phát. Thời gian phòng thấp ít nhất là 5 năm hoặc cho đến khi 21 tuổi và chọn thời gian dài nhất. Điều này càng được thực hiện nghiêm túc trên các đối tượng có yếu tố nguy cơ thấp tim tái phát cao:
- Tình trạng bệnh nhiều van hậu thấp nặng
- Thường hay tái phát
- Tiền sử gia đình mắc bệnh thấp
- Mật độ dân cư đông đúc
- Điều kiện kinh tế và dân trí thấp
- Nguy cơ nhiễm streptococcus cao
Tóm lại, sốt thấp khớp là một bệnh viêm nhiễm có thể gây tổn thương tại tim sau khi mắc phải viêm họng liên cầu khuẩn mà không được điều trị đúng cách. Những thông tin trên sẽ giúp nâng cao hiểu biết về bệnh lý này, tích cực ngăn ngừa sốt thấp khớp bằng cách tuân thủ điều trị nhiễm trùng viêm họng liên cầu khuẩn với một đợt kháng sinh đúng phác đồ. Đồng thời, việc theo dõi và tuân thủ phác đồ phòng ngừa thứ phát là yếu tố then chốt để bảo vệ sức khỏe tim mạch lâu dài cho bệnh nhân.